36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ >
  Tham quan những ngôi chùa nổi tiếng quanh Hồ Tây Tham quan những ngôi chùa nổi tiếng quanh Hồ Tây , 36phophuong.vn
 
Tham quan những ngôi chùa nổi tiếng quanh Hồ Tây

 1. Chùa Kim Liên: Chùa nằm ở phía đông bắc Hồ Tây, thuộc làng Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Tam quan chùa có đề ba chữ to rất đẹp “Kim Liên Tự” có nghĩa là chùa sen vàng.

Chùa được dựng trên nền đất cũ là của cung Từ Hoa - thuộc trại tằm Tang,  con gái vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình. Đến đời Trần, trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên. Dân làng dựng chùa Đống Long trên nền cung Từ Hoa cũ. Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng, chúa Trịnh Sâm sai quan quân dỡ chùa Bảo Lâm ở phía Tây Thăng Long đem về tu sửa thêm vào chùa, đặt tên mới là chùa Kim Liên. Năm 1792, đời vua Quang Trung, chùa được được tu bổ lại, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.
Trip2VN-ChuaKimLien
 2. Chùa Tảo Sách: Còn có tên là Tào Sách, Linh Sơn Tự, đây là một ngôi chùa có khuôn viên rộng lớn, cảnh quan đẹp đẽ, nước Hồ Tây vỗ sát ngay trước mặt tiền. Hiện mang số nhà 386 đường Lạc Long Quân, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Tương truyền: chùa Tảo Sách có liên quan đến dấu tích Hoàng tử Uy Linh Lang, con trai thứ bảy của Vua Trần Nhân Tông. Nhưng khác với Hoàng tử Uy Linh Lang con vua Lý ở ngôi đền trấn Tây Thủ Lệ (đền Voi Phục), đây là vị hoàng tử nhà Trần, có công đánh giặc Nguyên. Và có căn cốt nhà Phật từ nhỏ. Muốn xuất gia, không được, Uy Linh Lang đã dựng một căn nhà nhỏ ven hồ làm nơi đọc sách, giao du với bạn bè. Tên "Tảo Sách" (đọc sách buổi sớm) ra đời trong hoàn cảnh đó. Và tích hợp cùng "Chiêu Thánh điện", vốn là nơi thờ mẹ Uy Linh Lang là "Chiêu Minh phu nhân", sau khi Uy Linh Lang mất, thì cũng thờ luôn cả ở đây, với tước vị vua ban là "Dâm Đàm đại vương", cùng với 6 người bạn, làm thần Thành Hoàng. Đến thời Lê thì cả nhà "Tảo Sách" lẫn "Chiêu Minh điện" đều được đổi thành chùa. Và đến cuối triều Bảo Đại, (năm 1941) thì chùa được xây dựng lại theo quy mô như hiện nay. Xem chi tiết:
ChuaTaoSach-Hanoi
3. Đền Sóc thờ Thánh Gióng: Đền Sóc tại làng Xuân Đỉnh thờ Thánh Gióng. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc Ân, trên đường về Thánh Gióng đã nghỉ chân tại nơi đây và từ đó dân làng đã lập đền thờ ngài! Lễ hội Đền Sóc diễn ra vào mùng sáu tháng giêng âm lịch hàng năm và hội lớn được tổ chức 5 năm một lần.
Trip2VN-DenSoc
 4. Chùa Thiên Niên: Có tên chữ là Thiên Niên Cổ Tự, tên thường được gọi là Trích Sài nằm ở phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, ngay sát bờ hồ Tây. Tương truyền chùa được xây dựng thời Lý Nam Đế (544 – 548). Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497) có lập miếu và điện cho các cung phi tại đây. Từ năm 1893, sư trụ trì ở chùa mở rộng, đúc thêm tượng Phật và chuông đồng.
 Trip2VN-ChuaThienNien
 5. Đền Đồng Cổ: Ngôi đền ở thôn Đông, làng Yên Thái (còn gọi là làng Bưởi) quận Tây Hồ. Đền thờ Đồng Cổ sơn thần-thần núi Đồng Cổ hay là thần Trống Đồng. Nguyễn xưa có đền Đồng Cổ dựng ở núi Đồng Cổ, còn gọi là núi Khả Lao, xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Sự tích của đền chép là: năm 1020, Khai thiên vương Phật Mã (sau là Lý Thái Tông) đi bình giặc ở phía Nam, đóng quân tạm nghỉ ở đất Trường Châu. Đêm nhà vua mộng thấy thần núi Trống Đồng hiện ra dưới dạng một võ tướng, xin theo nhà vua giết giặc lập công. Đến khi thắng trận trở về, thái tử Phật Mã sửa lễ tạ ở đền thần đất Thanh Hóa, rồi xin rước thần về thờ ở Thăng Long (Hà Nội) để hộ quốc an dân. Chính sử của Đại Việt chép: ngày 3 tháng Ba (31-3-1028) vua Lý Thái Tổ mất, triều thần tôn Phật Mã lên ngôi vua. Ba vương: Đông Chinh, Dự Thánh và Vũ Đức làm loạn, định tranh ngôi vua của Phật Mã. Tướng quân Lê Phụng Hiểu đã giúp nhà vua dẹp loạn. Trước đó, thái tử Phật Mã đã chiêm báo thấy một vị thần tự xưng là thần núi Đồng Cổ báo trước việc ba vương nổi loạn. Tỉnh dậy, nhà vua sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiemẹ. Vì vậy, sau khi thái tử Phật Mã lên ngôi (tức vua Lý Thái Tông) liền phong tước vương cho thần núi và cho làm “Thiên hạ minh chủ” chủ trì việc thề ước trong nước, sai dựng miếu ở bên hữu (phía tây) thành Đại La tức là đền Đồng Cổ. Ngày 25 tháng Ba năm đó nhà vua sai lập đàn, dựng cờ xí, rồi cùng các quan trong triều đến miếu thờ Đồng Cổ đọc lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt!”. Sau đó, vua tôi cùng uống máu ăn thề để giữ yên xã tắc non sông. Về sau, triều đình chọn ngày mồng 4 tháng Tư (âm lịch) làm lễ hội thề ở miếu Đồng Cổ và hội thề trong cả nước. Đến thời Trần, thời Lê Sơ, vẫn theo lệ đó. Văn võ bá quan, ai thiếu mặt phạt 5 quan tiền. Trai gái kinh thành ngày hôm ấy đi xem lễ thề, đứng chật đường. Đấy là ngày hội lớn của đất Thăng Long thời Lý. Đến thời Lê, đổi nơi thề ở bờ sông. Đền Đồng Cổ thì vẫn tế thần theo lệ.
Đền Đồng Cổ hiện nay trở thành ngôi đền thờ 3 vị thành hoàng: Quý Minh, Bảo Hữu và Thổ Thần. Hiện vật còn: 1 bản chữ Hán trích văn tế ghi rõ đền được làm lại vào năm 1952, 14 đạo sắc phong qua các đời: Cảnh Hưng 2 (1741), Quang Trung 3 (1790), Cảnh Thịnh nguyên niên (1793). Những sắc phong này đều phong cho hai vị thần Quý Minh đại vương và Bảo Hữu đại vương, còn 2 đạo sắc Khải Định 9 (1924) phong thần là Bản thổ tôn thần. Ngoài ra còn 1 khám thờ gỗ, đôi câu đối, 1 bức cửa võng chạm hình lưỡng long chầu nguyệt, 3 ngai thờ, 2 biển lệnh gỗ.
Đền đã được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa vào năm 1992 và năm 2009. Xem chi tiết.
 Trip2VN-DenDongCo
6. Chùa Bà Đanh: Ngôi chùa hiện ở 199B phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ. Chùa có tên tự là Phúc Lâm tự, nhưng lai có tấm bia ghi: “Châu Lâm tự, hiệu Bà Đanh tự”.
Thời Lê Thánh Tôg, ở đây có trại của người Chiêm Thành phục dịch các công thự. Khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) đặt viện Châu Lâm để người Chiêm lễ Phật sau đổi làm chùa. Trong chùa có tượng Bà Đanh (có lẽ là tên gọi của nữ thần của người Chiêm, theo sách An Nam tháng cảnh có ghi lại Bà Đanh là công chúa triều Lý. Do vị trí xa cách với khu dân cư nên ít người qua lại viếng chùa. Dân gian thường có câu: Vắng như chùa Bà Đanh).  Lâu dần chùa bị dột nát hoang phế. Bài phú Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng có câu: “Dấu Bố Cái rêu in nền phủ, cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa”. Đến năm Thành Thái 4 (1892) dân làng tiến hành sát nhập chùa Châu Lâm thành chùa Phúc Châu và chuyển về dựng lại tại ngõ Hữu Lũng – ngay nay là số 199B Thụy Khuê).
 Trip2VN-ChuaBaDanh
7. Đền Quán Thánh: Đền Quán Thánh nằm trên đất phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, cạnh bên Hồ Tây cùng với chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc và cửa Bắc Thành Hà Nội. Ngôi đền là một trong Thăng Long tứ trấn ngày xưa, được xây dựng vào đầu thời nhà Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ.
Theo sự tích được ghi chép ở đền thì Huyền Thiên Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc, đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm: Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh... Trong bản ghi chép còn có chi tiết Huyền Thiên Trấn Vũ giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông...
Kiến trúc đền bao gồm: tam quan, sân, ba lớp nhà tiền tế, trung tế, hậu cung. Các mảng chạm, khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật rất cao. Bố cục không gian rất thoáng và hài hòa. Hồ Tây trước mặt tạo cho đền luôn có không khí mát mẻ quanh năm. Ngôi chính điện (bái đường), nơi đặt tượng Trấn Vũ, gồm 4 lớp mái (4 hàng hiên), chính giữa là bức hoành phi đề "Trấn Vũ Quán".
Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn. Xem chi tiết.
DenQuanThanh3
8. Chùa Trấn Quốc: Chùa được xây dựng vào đời vua Lý Nam Đế (Lý Bôn hay Lý Bí 544-548), có tên là Khai Quốc và ở trên bãi Yên Hoa, bên sông Hồng. Khoảng niên hiệu Đại Bảo (1440-1442) đời vua Lê Thái Tông sau chùa đổi tên là An Quốc. Đến năm 1615, đời Lê Kính Tông, bãi sông bị lở sát vào chùa, nhân dân phường Yên Hoa (sau này là Yên Phụ) mới dời chùa vào đảo Cá Vàng ở Hồ Tây, tức là địa điểm hiện nay. Khi đê Cổ Ngư được đắp, mới có đường nối đê với đảo Cá Vàng.
Năm 1639, đời Lê Thần Tông, chùa được trùng tu lớn. Theo tấm bia có bài văn của trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn năm 1639 còn ở trong chùa thì lần này "trước hết dựng hậu đường, cổng có gác, tiếp theo dựng hành lang tả hữu... Quy mô lớn, sức lực nhiều, so với trước gấp trăm lần. Cách thức vững vàng, công phu đầy đủ. Huy hoàng tượng Phật, sáng ngời rường chạm cột son, rực rỡ hoa hồng, ánh chiếu khắp tòa sen, cửa biếc".
Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) đời vua Lê Hy Tông, chùa lại đổi tên là Trấn Quốc. Năm 1842, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn tuần du ra Bắc, đổi tên chùa là Trấn Bắc, nhưng nhân dân vẫn quen gọi là Trấn Quốc. Xem chi tiết.
ChuaTranQuoc-4
9. Phủ Tây Hồ: Phủ nằm trên bán đảo lớn giữa hồ Tây, thuộc thôn Tây Hồ, phường Quảng An. Phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh và nơi đây cũng gắn liền với truyền thuyết về cuộc hội ngô lần thứ 2 của Mẫu Liễu Hạnh với Phùng Khắc Khoan (trạng Bùng) cùng 2 ông tú tài họ Ngô và cử nhân họ Lý.
Phủ chính có kiến trúc quy mô bên trong được bố trí theo chiều sâu, tạo sự thuận tiện trong quá trình sử dụng, mặt trước phủ chính có kết cấu kiểu nghi môn, 2 tầng mái, trụ gạch, giữa nóc mái đắp thượng cong, trang trí hoa lá, mái làm giả ngói ống. Qua nghi môn là phương đình 2 tầng, tám mái, hai đầu đốc mái thượng đắp hình hai con kìm đuôi xoắn, bốc góc đao mái thượng trang trí hoa văn hình hạc, mái lợp ngói lật, 4 góc đao mái hạ tạo 4 hình rồng.
Phần Hậu cung là một nếp nhà 3 gian chạy dọc về phía sau kiểu 2 tầng 4 mái, lợp ngói mũi hài cổ. Phần thợ tự được bố trí ở gian giữa theo thứ tự lần lượt từ ngoài vào: tam phủ công đồng, tứ phủ vạn linh, hội đồng các quan, Hoàng Bẩy áo xanh, Hoàng Mười áo vàng. Tiếp đó là thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Lớp thứ ba là thờ thánh mẫu Liễu Hạnh. Tây Hồ phong nguyệt và đôi câu đối ca ngợi bà Liễu Hạnh. Trên nóc mái giáp cửa hậu treo đại tự Mẫu nghi thiên hạ, hai bên có câu đối bằng gỗ. Lớp trên cùng hậu cung là nơi đặt tượng của bà Liễu Hạnh và tượng chầu Quỳnh, chầu Quế. Trên cao là bức đại tự Thiên tiên trắc giáng và Mẫu nghi thiên hạ. Lễ hội phủ Tây Hồ diễn ra quanh năm nhưng đông nhất là vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch. Xem chi tiết.
Trip2VN-PhuTayHo

 

rip2vietnam.com


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Du lịch quanh Hà Nội chỉ với 300K (03/06/2016)
  + Báo The New York Times đăng clip hành trình 36 giờ quanh Hà Nội (01/11/2014)
  + Con đường di sản ven Hồ Tây (21/10/2012)
  + Cuối tuần đi chơi ở đâu? (04/10/2012)
  + Ẩm thực đường phố Hà Nội vào top 10 châu Á (19/06/2012)
  + Giá"một đêm lãng mạn" ở Hà Nội rẻ nhất thế giới (19/06/2012)
  + 20 điều độc đáo của Hà Nội ''''''''mê hoặc'''''''' khách Tây (06/04/2012)
  + hn.24h.com.vn hướng dẫn viên du lịch khu phố cổ Hà Nội (18/03/2012)
  + Du lịch Hồ Tây bằng ô tô điện (18/03/2012)
  + Phố Lý Quốc Sư, con phố lạ mà quen (21/05/2011)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo