36phophuong.vn     
Trang chủ
Thăng Long-Hà Nội
Lướt mạng Internet
Cuộc sống
Những giá trị bảo tồn
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
 Giải pháp thiết kế
 Lõi đô thị lịch sử Hà Nội
 Công trình bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa lý- phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Mỹ thuật
Trang ảnh
thư giãn
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Cải tạo, tu bổ, bảo tồn >
  Nguồn gốc và quá trình phát triển của kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống người Việt (3) Nguồn gốc và quá trình phát triển của kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống người Việt (3) , 36phophuong.vn
 
Nguồn gốc và quá trình phát triển của kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống người Việt (3)

 4. Kiến trúc nhóm nhà ở dân gian miền trung và miền Nam

Đặc trưng trong bố cục mặt bằng của nhà ở dân gian miền trung và miền nam là tổng thể nhà ở bao gồm nhiều nếp nhà được xây dựng với mái liền kề. Trong đó nhà trên là nơi đặt bàn thờ tổ tiên vànhà dưới là không gian dành cho sinh hoạt thường nhật. Tại miền trung, nhà trên vànhà dưới thường được bố cục vuông góc với nhau và cùng hướng về sân phơi phía trước nhà. Ngược lại, tại miền nam, nhà trên và nhà dưới được bố cục thẳng hàng với nhau theo chiều  ngang hoặc chiều dọc9. Giữa nhà trên vànhà dưới thường được nối với nhau bằng nhà cầu. Đa số các nhà được xây dựng với hình thức bốn mái có đầu hồi.

Qui mô của nhà ở miền trung và miền nam cũng lớn hơn nhiều so với miền bắc. Nhà trên thường có qui mô từ năm đến bảy gian vànhà dưới từ ba đến năm gian. Không gian nhà trên cũng được bố cục đối xứng bao gồm gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và các gian buồng hai bên là chỗ ngủ hoặc là kho chứa đồ. Tại miền nam, do vì kèo thường có bước cột lớn và chiều sâu của nhà gấp đôi so với các địa phương khác, nên mặt bằng thường được chia theo bố cục trước sau, nhưng vẫn đảm bảo tính đối xứng.

Khác với miền bắc, tại miền trung và miền nam đã sử dụngkèo chồng tạo nên một cấu trúc vì kèo mang tính thống nhất (không chia thànhvì thânvà vì nóc). Đặc trưng của cấu trúc kèo chồng đó là các thanh kèo được đặt nằm nghiêng theo chiều dốc của mái liên kết các đầu cột với nhau và đầu của thanh kèo nằm phía dưới được gác lên đuôi của thanh kèo nằm phía trên

Hình 4: Các loại vì kèo của nhà ở dân gian miền Trung và miền Nam

Nét đặc trưng này đã được thể hiện thông qua chính tên gọi của nó

Tại đây các hình thức vì kèo được chia thành hai loại chính (hình 4). Tuy nhiên hầu hết những ngôi nhà hiện còn tồn tại đều có niên đại muộn trong khoảng từ nửa sau thế kỷ 19 cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Mặc dù cuộc điều tra đã được tiến hành trên một không gian rộng từ Thừa Thiên-Huế cho đến Tiền Giang với tổng số 2016 ngôi nhà, nhưng đã không tìm thấy các hình thức vì kèo đa dạng như ở miền bắc. Tuy nhiên, khi kết hợp phân tích dưới góc độ ngôn ngữ, ý nghĩa và chi tiết cấu tạo liên kết giữa k è o, c ột giữa/ t rụ vàđòn đông có thể nêu lên một số kết  lun sau:

          (1) Nhà rọi hay nhà nọc ngựa ứng với hình thức vì kèo loại 1 là cấu trúc có một cột nằm chính giữa (cột giữa) chống trực tiếp với đòn đông (nóc). Những tên gọi này dường như đã được lưu truyền tại miền trung và miền nam từ trước khi người Việt chính thức đến định cư tại đây. Cấu trúc vì kèo có một cột giữa này cũng có đặc trưng giống như hình thức vì kèo nguyên thủy với các cột được chôn xuống đất10.

(2) Khi phân tích cấu tạo kiến trúc liên kết củacột giữa, kèo và đòn đông của 373 trường hợp vì kèo loại 1 cho thấy cấu trúc với một thanh gỗ tròn ngắn đặt vuông góc với đầu cột giữa rồi gác kèo lên trên (ảnh 1) là kỹ thuật nguyên thủy cổ điển nhất. Tại đây, các cấu kiện được liên kết với nhau mà hoàn toàn không sử dụng đến kỹ thuật lắp ráp mộng. Về sau, một tấm gỗ hình tam giác bản dầy từ 3- 4cm (nh dơi) đã thay thế cho vai trò của thanh gỗ tròn nêu trên đã được lắp  mộng trực tiếp vào đầu cột giữa tạo nên một điểm tựa thật chắc chắn để gác kèo (ảnh 2). Trong một số trường hợp cả xà nối các cột giữa của các vì kèo với nhau cũng được lắp mộng vào đầu cột. Nhờ kỹ thuật này mà chiều rộng của bước cột và bước gian ngày càng được mở rộng. Có thể cho rằng, người Việt đã đem kỹ thuật xẻ mộng đầu cột- một kỹ thuật truyền thống lâu đời từ miền bắc du nhập vào miền trung và miền nam. Nhờ việc áp dụng những kỹ thuật này mà nhà ở dân gian tại đây được xây dựng với qui mô lớn hơn trước, và đặc biệt lớn hơn cả nhà ở dân gian tại miền bắc. Dần dần, ngay cả tấm gỗ hình tam giác cũng được lược bỏ và liên kết của hai thanh kèo ở nóc mái, cũng như cả đòn đông đều được lắp mộng vào đầu cột (ảnh 3).

(3) Đối với nhà ở dân gian miền nam, cho đến nay đều thấy trong khi tại nhà trên sử dụng hình thức vì kèo loại 1, thì tại nhà dướicột giữa đã được thay thế bằng một trụ ngắn nằm trên một thanh dầm (trính) nối hai cột nằm liền kề ở phía trước và phía sau. Điều này chứng tỏ bên cạnh việc cố gắng duy trì hình thức truyền thống ở nhà trên thì tại tại nhà dưới đã có những sự thay đổi cho phù hợp và thuận tiện hơn cho sinh hoạt.

http://htmlimg2.scribdassets.com/eqmped1lu0ddz4/images/11-229d0832f6/000.jpg

11

Ảnh 1: Nguyên lý kiến trúc và vì kèo nguyên thủy

Ảnh 2: Cánh dơi và kỹ thuật gỗ ảnh hưởng từ Bc B

Ảnh 3: Kỹ thuật gỗ phát triển và sự đơn giản hóa

 

          (4) Nhà rương, nhà rường và nhà xuyên trínhlà các tên gọi tương ứng với các nhà có hình thc vì kèo loi 2. Trong đó, nhà rường là tên gi ở miền trung,n nhà xuyên trính là tên gọi ở miền nam. Cu trúc này có hai cột ở trung tâm vì kèo (cột hàng nhất) nm v hai phía đi xng vớiđòn đông. Chúng đưc ni vi nhau bng mt thanh dm ngang (trính/trến). Trong mt số trường hp phía trên của trínhn có mt trụ ngắn chng nóc, hoặc đưc gác nhng tấm ván chy dài sut gian chính gia của nhà. Cách gi tên nêu trên đã đưc Alexandre De Rhodes giải thích trong cun từ điển năm 1651, do đó các hình thc kiến trúc này chắc chắn đã đưc tồn tại từ khong gia thế k 17. Ngoài ra, từrương vàrường là nhng từ có ngun gc từ chữ hán nôm, ngược lại, từtr ính là từ có ngun gốc xuất phát từ ngôn ngữ đa phương không đưc tìm thy trong vn từ hán nôm. Do đó, có th phng đoán tên gi nhà xuyên trính đã có ở vùng đt phía nam từ trước khi ngưi Việt đt chân đến nơi này.

 

             (5) Kỹ thuật của vì kèo loại 2 với trụ chống nóc là hình thức được phát triển lên từ vì kèo nguyên thủy loại 1. Trên nguyên tắc chung, loại 2 đã áp dụng nguyên lý kỹ thuật tương tự như trường hợp vì kèo nhà dưới (nêu trong phần (3)), nhưng thực tế nó bao hàm ý nghĩa khác chứ không chỉ đơn thuần mang tính thực dụng như trường hợp nêu ở trên. Khi phân tích chi tiết cấu tạo giữatrụ, kèo vàđòn đông cho thấy hình thức xẻ mộng ở đầu trụ để lắp hai kèo vào đầu cột là kỹ thuật đã được sử dụng ở vì kèo loại 1 (hình 5-1). Với kỹ thuật này, trụ đã đóng một vai trò kết cấu quan trọng tương tự như cột giữa. Ngược lại, những hình thức khác như: trụ đỡ trực tiếp phía dưới hai kèovà đòn đông, hoặc trụ được cắt ngắn đi để không chạm đến giao điểm của haikèo, thì thấy vai trò kết cấu của t rụ đã bị giảm bớt. Hơn nữa, trong quá trình xây dựng t rụ cũng được lắp vào sau khi đã hoàn thành cơ bản vì kèo. Đặc biệt tại miền nam, mặc dù qui mô của vì kèo và của nhà được mở rộng đáng kể nhưngtrụ lại được làm ngắn đi. Những điều này chứng tỏ vai trò kết cấu của t rụ đã bị giảm đi, thay vào đó là hình thức của trụ,nh dơi và đấ u đã được cách điệu hóa với những điêu khắc trang trí phong phú (hình 5-2,3). Phải chăng, t rụ đã trở nên một biểu tượng hóa củacột giữa trong vì kèo truyền thống loại 1? Cũng cần lưu ý rằng tại miền trung và miền nam hình thức vì kèo loại 2 cũng được sử dụng trong việc xây dựng các công trình đình chùa, nhà thờ họ và trong cả đại nội.

(6) Piere Gourou (1936) đã gọi nhà ở dân gian ở vùng phía bắc của Thừa Thiên-Huế lànhà rương với định nghĩa là “nhà hộp11. Từ này có thể được dùng để ám chỉ những ngôi nhà có rầm thượng và có một không gian đóng kín toàn bộ phần gian giữa ngay phía dưới nóc. Tại đây, trong một số nhà hiện nay ở Thừa Thiên-Huế thấy được dùng để gác những con thuyền độc mộc bằng gỗ. Điều này gợi lên những liên tưởng đến hình thức nhà kho bằng gỗ có sàn cao được phổ biến tại vùng Đông Nam châu Á và vùng bờ biển phía đông lục địa Trung Quốc.

Hình 5: Cấu tạo chi tiết liên kết phần nóc mái giữatrụ, kèo đòn đông

Hình 6 là mt giả thuyết mô phng quá trình hình thành và phát triển vì kèo của nhà ở dân gian miền trung và miền nam

Hình 6: Mô hình sự hình thành và phát triển vì kèo của nhà ở dân gian miền trung và

miền nam

ghi chú:
9 Trường hợp thứ nhất được gọi là bố cục chữ đinh vì đòn đông của nhà trên và nhà dưới được nằm
vuông góc với nhau. Trường hợp thứ hai gọi là bố cục sắp đọi vì đòn đông của nhà trên và nhà dưới
được nằm song song với nhau
10 Hình thức này trong kiến trúc truyền thống Nhật Bản gọi là Hottate-bashira
11 Piere Gourou 1936: Esquisse D´une etude de L´ Habitation Annamite-Dans L´ Annam septentrional
et Central du Thanh Hoa au Binh Dinh, p.44-56

 Trần Thị Quế Hà

Đại học Quốc gia Singapore

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Độc đáo “tượng say” trong chùa Bà Đanh (21/10/2014)
  + Hanoi Fly Hà Nội - những góc nhìn từ không trung về làng cổ Đường Lâm (18/10/2014)
  + Những ngôi nhà 300 năm vẫn đẹp ở làng cổ Đường Lâm (18/10/2014)
  + Để có một làng cổ Đường Lâm sạch đẹp hơn (Tầm nhìn) (17/10/2014)
  + Cụm dinh thự Công tử Bạc Liêu (29/09/2014)
  + Tu bổ, tôn tạo di tích đền Bà Kiệu (27/09/2014)
  + Di tích Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn (24/09/2014)
  + Ngôi nhà gỗ lim 300 tuổi vùng Kinh Bắc (01/09/2014)
  + Những hình ảnh tuyệt đẹp của nhà vườn Huế (01/09/2014)
  + Nhà rường Huế (01/09/2014)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Thăng Long-Hà Nội    Lướt mạng Internet    Cuộc sống    Những giá trị bảo tồn    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa lý- phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Mỹ thuật    Trang ảnh    thư giãn    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo