36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
 Hà Nội qua những bản đồ
 Nội đô thị lịch sử
 Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Quy hoạch - Đô thị >
  Thử làm rõ hơn nhận định của GS Phan Huy Lê về vị trí cấm thành. Thử làm rõ hơn nhận định của GS Phan Huy Lê về vị trí cấm thành. , 36phophuong.vn
 
Thử làm rõ hơn nhận định của GS Phan Huy Lê về vị trí cấm thành.
Nhận định của giáo sư Phan Huy Lê ( vietnamnet)
Sử liệu cũng như dấu vết thực địa phát lộ qua các cuộc đào thám sát khu Cột cờ, Đoan Môn; đặc biệt là cuộc khai quật khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu đã cho phép chúng ta xác định rõ vị trí Cấm Thành- khu trung tâm của Hoàng thành Thăng Long.
 
 
 
 
 
Trục trung tâm của Cấm Thành: Bắc Môn – Hậu Lâu- Kính Thiên- Đoan Môn- Cột cờ.Đường viền đỏ là phạm vi trung tâm của Cấm Thành còn sót lại.
Về kiến trúc Cấm Thành, theo sử liệu cũng như các dấu vết tại thực địa cho thấy:
Thứ nhất, trung tâm của Cấm Thành là điện Kính Thiên thời Lê sơ; xưa là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý, Trần. Đó cung điện quan trọng bậc nhất, nơi tiến hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi tiếp sứ giả nước ngoài, nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự. Nền điện Kính Thiên bây giờ còn đó với bậc thềm và lan can đá chạm rồng mang đặc trưng nghệ thuật trang trí thế kỷ XV.
Thứ hai là Đoan Môn, cửa Nam của Cấm Thành. Tài liệu sử sách cho biết vị trí của Đoan Môn cũng không thay đổi qua các triều đại. Vừa rồi khảo cổ đã đào thám sát và xác định chắc chắn Đoan Môn còn lại hiện nay được xây dựng từ thời Lê, đến thời Nguyễn có sửa sang lại. Dưới chân Đoan Môn đã phát hiện dấu tích kiến trúc của thời Lý, Trần. Đoan Môn phải hiểu là cửa Nam phía trong trong cùng của Cấm Thành, bởi theo Phan Huy Chú và Nguyễn Văn Siêu thì phía nam Cấm Thành có ba lần cửa, nhìn trên bản đồ Hồng Đức cũng thấy điều đó. Theo một số tài liệu đời Nguyễn thì Cột cờ được xây dựng trên nền cửa Tam Môn là cửa Nam ngoài cùng của Cấm Thành.
Như vậy là Kính Thiên – Đoan Môn – Cột Cờ/Tam Môn là trục trung tâm của Cấm Thành.
Thứ ba là chùa Một Cột. Theo văn bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi, Duy Tiên, Hà Nam) do Nguyễn Công Bật soạn năm 1121 thời Lý thì chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột dựng ở phía tây Cấm thành. Vậy tường thành phía tây của Cấm thành không thể quá vị trí chùa Một Cột. Theo bản đồ Hồng Đức và nhiều tài liệu địa lý, lịch sử thì ở phía Tây Bắc của Cấm Thành có cửa Tây (Tây Môn) và phía ngoài có núi Khán Sơn và chùa Khán Sơn là nơi vua Lê Thánh Tông lên duyệt binh. Đầu thế kỷ XIX khi nhà Nguyễn xây dựng lại thành Thăng Long, từ năm 1831 đổi tên là thành Hà Nội, thì Khán Sơn nằm bên trong, ở về phía Tây Bắc của thành Hà Nội, nghĩa là nằm ở khoảng cuối Hùng Vương gần Phan Đình Phùng, trước mặt Chủ tịch phủ và Thủ tướng phủ hiện nay. Từ đó, có thể phỏng đoán tường thành phía tây Cấm Thành ở vào khoảng đường Độc Lập đến giữa Quảng trường Ba Đình.
Vậy là ta đã xác định được vị trí trung tâm, trục trung tâm cùng giới hạn phía nam và phía tây của Cấm Thành.
Theo bản đồ Hồng Đức, Cấm Thành có hình chữ nhật, nhưng Đông cung và Thái miếu ở phía đông – theo Nguyễn Văn Siêu – dù nằm trong tường thành bảo vệ nhưng vẫn không được coi là trong Cấm Thành. Như vậy, Cấm Thành gần như hình vuông. Điều này cũng rất phù hợp với việc nhà Nguyễn xây dựng thành Hà Nội trên cơ sở mở rộng Cấm Thành. Trong chỉ dụ của vua Gia Long có nói thành Thăng Long (Cấm thành) chật hẹp, cho nên phải mở rộng thêm. Thành Hà Nội của nhà Nguyễn vì thế rộng hơn Cấm Thành, nhưng nhỏ hơn Hoàng thành.
Theo kết quả xác định trên thì khu khai quật chắc chắn nằm trong Cấm Thành và chỉ cách điện Kính Thiên chưa đầy 100 m tức gần vùng trung tâm của Cấm Thành. Trong lịch sử thành Thăng Long, La thành (hay Đại La thành), Hoàng Thành trải qua khá nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng thành, đặc biệt là vị trí, qui mô của Cấm Thành (còn gọi là Cung thành) thì gần như không thay đổi. Chỉ có kiến trúc bên trong thì dĩ nhiên qua nhiều lần xây dựng, tu sửa. Chính đặc điểm này giải thích tại sao trên khu di tích 18 Hoàng Diệu, các lớp di tích kiến trúc và di vật chồng lên nhau qua các thời kỳ lịch sử.
PGS-TS Tống Trung Tín-Phó Viện trưởng, Viện Khảo cổ học Việt Nam:
Chính sử ba thời kỳ lớn Lý, Trần, Lê đều ghi rất rõ: xung quanh điện Kính Thiên thời Lê (chính là xung quanh điện Thiên An thời Lý, Trần) dày đặc các cung điện. Vị trí khai quật của di tích 18 Hoàng Diệu cách điện Kính Thiên đúng 87m, xuất lộ dày đặc các dấu tích cung điện rất phù hợp với sử liệu Lý, Trần, Lê.
Từ trung tâm của điện Kính Thiên cho đến Đoan Môn (trên trục chính của Cấm Thành), ta đã thăm dò khảo cổ học ở vị trí trước Đoan Môn, tìm thấy dấu vết Ngự đạo. Nhiều người cho rằng cứ tiếp tục tìm ở quanh đó thì sẽ thấy các cung điện, nhưng suy luận theo các tài liệu lịch sử thì sẽ thấy ở đó chỉ có điện Kính Thiên, Đoan Môn, điện Thị Triều, còn lại sẽ là đường vua đi (ngự đạo) và sân rồng.
Trong khi đó, khi khai quật hố A20 (khu A), các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng như Nhật Bản khi nghiên cứu kiến trúc phân bố của các trụ móng cột cũng như kỹ thuật bó nền của nó thấy dấu vết còn ăn sâu vào đường Hoàng Diệu thì thấy rõ đây là những kiến trúc rất lớn, chạy từ Hố A20 vắt qua đường Hàng Diệu sang phía khu thành cổ Hà Nội hiện nay.
Những kiến trúc này đều được gia cố bằng hệ thống móng trục bằng sỏi, gạch, ngói vụn nhồi với kích thước rất lớn, hình dáng gần hình vuông mà mỗi cạnh 1.2 m, chiều sâu 1m. Các chuyên gia nghiên cứu kiến trúc cổ các nước đến đây giúp ta đều nhận định đó phải là những hệ thống móng trụ để đỡ một hệ thống khung cột, mái nhà bên trên rất lớn, phải là những kiến trúc quan trọng của khu vực này.
Thành khu B, khu D cũng tìm thấy những dấu vết kiến trúc như thế. Riêng khu C chỉ mới khai quật thăm dò, nhưng đã thấy nhiều dấu vết kiến trúc quan trọng, lại nằm giữa hai khu B và D.
Rồi ta tìm thấy dấu vết của những cung điện đã ghi trong lịch sử là nằm trong Cấm Thành, như khu A thì tìm thấy dấu vết của Trường Lạc cung, là cung của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng, vợ vua Lê Thánh Tông, sau là Hoàng thái hậu thời vua Lê Hiển Tông. Ta tìm thấy những đồ dùng có ghi rõ Trường Lạc khố (đồ ở cung Trường Lạc) hoặc ghi là Trường Lạc cung (đồ của cung Trường Lạc). Cung của Hoàng hậu, Hoàng thái hậu là cung cấm, không thể không nằm trong Cấm thành.
Thành khu D (sát đường Độc Lập), ta tìm thấy 2 dấu vết quan trọng. Thứ nhất là ngói thời Trần có ghi Hoàng Môn Thự, cơ quan đầu não gần vua nhất, giúp mọi việc cho các vị vua thời Trần nằm trong Cấm Thành. Ta còn thấy dấu vết của điện Kim Quang thời Lê qua những viên ngói ghi rõ “Kim Quang điện”, rồi gạch của hàng chục phiên hiệu quân đội thời Lê ở đây.
Nghiên cứu chi tiết các di vật tìm được ở đây lại càng tìm thấy nhiều bằng chứng của khu trung tâm Cấm Thành. Hàng vạn viên gạch tìm được của rất nhiều thời kỳ, trong đó sớm nhất là gạch “Giang Tây quân” từ thời thành Đại La (thế kỷ VII đến IX), rồi gạch Long Thụy Thái Bình từ năm 1057… hệ thống trang trí toàn là những biểu trưng của nhà vua như rồng, hoa sen, hoa cúc.
Kèm theo đó là một hệ thống di vật những đồ dùng trong hoàng cung như bát, đĩa, chum, vại đều ở trình độ cao. Như đồ gốm sứ cao cấp thời Lý, Trần, gốm mỏng thời Lê trình độ không kém gì Trung Quốc, hoa văn rất đẹp, biểu trưng cho các quyền uy của hoàng gia. Đặc biệt tìm thấy ở khu D những lá kim loại màu vàng của thời Lý có chạm khắc hình rồng – theo các chuyên gia trong và ngoài nước thì những chiếc lá kim loại bằng vàng, màu vàng chỉ tượng trưng cho vua)
Những bằng chứng này đã đủ khẳng định di tích 18 Hoàng Diệu thuộc Cấm Thành, thậm chí là trung tâm của Cấm Thành.
Thành Bắc Kinh, mấy chục năm trước dân phá lớp thành ngoài cùng (tương đương thành Đại La của ta) để lấy gạch xây nhà, vài năm gần đây Chính phủ Trung Quốc có chủ trương tôn tạo lại toàn bộ vòng thành ngoài (tương đương những con đường như Đê La Thành, Hoàng Hoa Thám), người dân đã dỡ toàn bộ gạch cổ của nhà mình ra để góp sức tôn tạo đúng như nguyên bản.
(Theo Người Hà Nội)
 
Thử phân tích qua những bản đồ 
Thành Vạn Xuân, kinh đô của nhà nước độc lập do Lý Nam Đế thành lập vào thế kỷ 6, rồi phủ thành Tống Bình, phủ thành An Nam thế kỷ 7 – 9 mà tiêu biểu là thành Đại La thế kỷ 9, đều nằm trong khu vực này. Thành Đại La không những là thành luỹ quy mô lớn mà còn là một đô thị phồn thịnh bậc nhất của đất nước thời bấy giờ.
Mùa thu, tháng 7 năm Giáp Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ thành Hoa Lư (Ninh Bình) ra “thành Đại La” là “đô cũ của Cao Vương”[1] và đổi tên là thành Thăng Long. Từ đó cho đến cuối thế kỷ 18, thành Thăng Long liên tục giữ vai trò kinh đô của nước Đại Việt, tuy tên có thay đổi:
– Thành Thăng Long dưới triều Lý (1009 – 1226) từ năm 1010 cho đến đầu năm 1226, triều Trần (1226 – 1400) từ năm 1226 đến năm 1397.
– Năm 1397 đổi tên là Đông Đô vào những năm cuối triều Trần, rồi triều Hồ (1400 – 1407).
– Năm 1407 là thủ phủ của chính quyền đô hộ nhà Minh (1407 – 1427) với tên gọi là phủ thành Giao Chỉ, thường gọi là thành Đông Quan.
– Năm 1430 đổi tên là thành Đông Kinh, dưới triều Lê sơ (1428 – 1527) rồi triều Mạc (1527 – 1592), triều Lê Trung hưng (1593 – 1788). Trong thời gian này, tên Thăng Long vẫn được sử dụng và thế kỷ 17 – 18 còn có tên mang tính dân dã là Kẻ Chợ (trong tài liệu phương Tây thường phiên âm là Ca Cho).
Về mặt cấu trúc, kinh thành Thăng Long đã gồm ba vòng thành: vòng thành bảo vệ ngoài cùng gọi là thành Đại La hay La thành, vòng thành giữa thời Lý, Trần mang tên Long thành, Phượng thành hay Long Phượng thành và từ thế kỷ 15 thường gọi là Hoàng thành; vòng thành trong cùng thời Lý thường gọi là “vùng cấm” (Cấm trung, theo Đại Việt sử lược) hay Cấm thành (theo Đại Việt sử ký toàn thư), thời Trần là Cấm thành, thời Lê là Cấm thành hay Cung thành. Qua các thời kỳ lịch sử, La thành và Hoàng thành có nhiều thay đổi, nhất là lần mở rộng Hoàng thành về phía Tây Nam năm 1490, lần xây dựng và mở rộng Hoàng thành năm 1516, lần đắp thêm ba lớp lũy phía ngoài La thành, mở rộng lên phía Bắc bao gồm cả Hồ Tây năm 1588, lần thu hẹp La thành và Hoàng thành năm 1749, nhưng phần trung tâm phía Đông của Hoàng thành thì hầu như không thay đổi mấy. Đó là khu vực nằm khoảng giữa phố Thuốc Bắc về phía Đông, phố Phan Đình Phùng về phía Bắc, phố Nguyễn Thái Học về phía Nam và phố Sơn Tây về phía Tây.
Cấm thành nằm trong khu trung tâm phía Đông của Hoàng thành, về vị trí cũng như qui mô từ thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 13 cũng gần như không thay đổi. Đây là nơi làm việc của triều đình và các cơ quan quyền lực trung ương, nơi thiết triều, tiếp sứ thần các nước, nơi diễn ra các nghi lễ trọng thể của quốc gia và cũng là nơi ở, nghỉ ngơi của nhà vua và hoàng gia, cung nữ.
Các cung điện, lầu gác và cả qui hoạch bên trong Cấm thành có thay đổi qua các vương triều, có những lần bị tàn phá vì chiến tranh xâm lược hay những cuộc xung đột cung đình, qui mô cũng có thay đổi ít nhiều theo xu hướng mở rộng thêm.
Sử biên niên như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư… còn ghi chép những năm xây dựng, tu sửa các cung điện, lầu gác trong Cấm thành và những năm bị tàn phá rồi phải xây dựng, kiến tạo lại.
Ngoài tư liệu chữ viết, còn có một số bản đồ cổ mà sớm nhất Bản đồ thành Đông Kinh trong tập Bản đồ Hồng Đức được vẽ năm 1490 mà hơn 10 truyền bản còn bảo tồn đến nay phần lớn mang niên đại thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Theo tư liệu bản đồ này, Cấm thành có tường thành bảo vệ và gần như hình vuông. Chính giữa Cấm thành là điện Kính Thiên, phía Bắc bên phải là điện Chí Kính, bên trái là điện Vạn Thọ (nhìn theo hướng Bắc – Nam); phía Nam có Thị Triều rồi đến Đoan Môn, Đông Trường An, Tây Trường An. Trên bản đồ chỉ vẽ cửa Nam tức Đoan Môn có ba lớp cửa và cửa Tây mở về phía Tây Bắc. Phía Đông Cấm thành có Đông Cung và Thái Miếu. Tất nhiên đấy chỉ là một số kiến trúc cung đình tiêu biểu thời Lê.
Căn cứ vào bản đồ Hồng Đức và các sử liệu chữ viết, kể cả văn bia, địa chí, thơ văn, có thể xác định một cách tương đối phạm vi của Cấm thành như sau:
– Trung tâm của Cấm thành là điện Càn Nguyên/ Thiên An/ Kính Thiên. Đây là kiến trúc quan trọng bậc nhất của vương triều, nơi thiết triều của nhà vua và cử hành các nghi lễ quốc gia tiêu biểu, ở vào vị trí trung tâm của Cấm thành và xây dựng trên núi Nùng mang ý nghĩa phong thuỷ linh thiêng. Vì vậy điện Càn Nguyên, Thiên An và Kính Thiên đều xây dựng trên một địa điểm là Núi Nùng. Nền điện Kính Thiên hiện nay do nhà Lê xây dựng năm 1428 và bậc thềm 9 bậc với lan can đá chạm rồng dựng năm 1467. Kiến trúc đã bị phá huỷ năm 1886 nhưng nền điện với bậc thềm đá vẫn còn được bảo tồn đến nay. Đấy là tâm điểm của Cấm thành.
02.Bản đồ thời Lê Vẽ năm Gia Long thứ 9 (1810)
Bản đồ thời Lê Vẽ năm Gia Long thứ 9 (1810)
02.Cấm thành trên bản đồ Thành Đông Kinh theo bản đồ Hồng Đức
Cấm thành trên bản đồ Thành Đông Kinh theo bản đồ Hồng Đức
04-Hoàng Thành
Hoàng Thành
03.Bản đồ Thành Hà Nội
Bản đồ Thành Hà Nội thời Nguyễn
04.Ảnh chụp từ máy bay năm 1930
Ảnh chụp từ máy bay năm 1930
01.Ảnh bản đồ chồng lớp vị trí thành Hà Nội
Ảnh bản đồ chồng lớp vị trí thành Hà Nội thời Nguyễn
05.Vị trí cấm thành theo giả thuyết của Giáo sư Lê.
Vị trí cấm thành theo giả thuyết của Giáo sư Lê.
06.Nền điện Kính Thiên hiện còn (trái) và trước khi bị phá (phải)
Điện Kính Thiên
06
Nền điện Kính Thiên hiện còn (ảnh) và trước khi bị phá (ảnh trên).
– Đoan Môn là cửa phía Nam của Cấm thành. Tư liệu lịch sử cho biết Đoan Môn từ thời Lý, qua thời Trần đến thời Lê, vị trí không thay đổi. Di tích Đoan Môn hiện còn, qua kết quả thăm dò khảo cổ học xác nhận kiến trúc này được xây dựng thời Lê sơ (thế kỷ 15) trên nền Đoan Môn thời Lý, Trần qua dấu tích và di vật phát hiện. Đấy là cửa trong cùng về phía Nam Cấm thành.
Đoan Môn - Phía Nam Hoàng Thành
Đoan Môn – Phía Nam Hoàng Thành
07.Đoan Môn ngày nay
Đoan Môn ngày nay
– Theo Lời tiểu dẫn của bài thơ Vịnh Cột Cờ trong Long Biên bách nhị vịnh của Bùi Quang Cơ thì Cột Cờ tức Kỳ đài do nhà Nguyễn xây dựng năm 1805 trên nền cửa Tam Môn là cửa phía ngoài cùng của Đoan Môn.
Cột cờ ( phía Nam Hoàng Thành )
Cột cờ ( phía Nam Hoàng Thành )
09.Cột Cờ (Kỳ Đài) nhìn từ trên cao
Cột Cờ (Kỳ Đài) nhìn từ trên cao
– Chùa Diên Hựu tức Một Cột hiện còn đã qua nhiều lần trùng tu và xây dựng lại, trong văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh do Nguyễn Công Bật soạn và khắc năm 1121 thời Lý, có đoạn chép: “hướng về vườn nổi tiếng ở Tây Cấm dựng chùa Diên Hựu” (hướng Tây Cấm chi danh viên xưởng Diên Hựu chi danh tự). Nếu hiểu “Tây Cấm” là phía Tây của “Cấm thành” hay “Cấm trung” thì chùa Một Cột ở vị trí phía Tây Cấm thành hay nói cách khác, giới hạn phía Tây của Cấm thành ở về phía Đông chùa Một Cột hiện nay.
002.Chùa Diên Hựu-Chùa Một Cột_n
Chùa Diên Hựu-Chùa Một Cột
08.Chùa Một cột (Chùa Diên Hựu), thành phố Hà Nội.
Chùa Một cột (Chùa Diên Hựu), thành phố Hà Nội.
 
– Khán Sơn là ngọn núi nằm ở phía ngoài gần cổng Tây Bắc của Cấm thành. Điều đó được ghi nhận qua bản đồ Đông Kinh trong Bản đồ Hồng Đức. Nhưng sau khi xây thành Hà Nội thì Khán Sơn lại nằm bên trong thành Hà Nội ở góc Tây Bắc[2]. Khán Sơn nằm ở bên trong, vào góc Tây Bắc[3] của thành Hà Nội, tức khoảng gần góc Phan Đình Phùng – Hùng Vương hiện nay.
– Tam Sơn là ba gò đất gồm hai gò tự nhiên cách nhau chừng 2 trượng (66m) và một gò đắp thêm ở giữa, chu vi hơn 30 trượng (99m). Tam Sơn trước đây nằm ở phía Bắc Cấm thành. Sang đầu thế kỷ 19 khi xây thành Hà Nội, Tam Sơn bị san bằng nhưng các tài liệu địa chí cho biết vị trí ở bên trong thành Hà Nội, về phí Bắc, gần Cửa Bắc[4].
010.Cấm thành trong quan hệ với các vật chuẩn
Cấm thành trong quan hệ với các vật chuẩn
Qua hình dạng gần hình vuông, tâm điểm là nền điện Kính Thiên, phía Nam có Đoan Môn là cổng trong và Tam Môn ở vị trí Kỳ Đài (Cột Cờ) là cổng ngoài, tường phía Tây ở về phía Đông chùa Một Cột, phía Tây Bắc giáp góc Đông Nam Phan Đình Phùng – Hùng Vương và phía Bắc gần Tam Sơn ở bên trong Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) trên phố Phan Đình Phùng. Từ những di tích hiện còn lấy làm vật chuẩn hay chỉ giới của Cấm thành, có thể xác định được vị trí, qui mô và phạm vi tương đối của Cấm thành. Tính toán trên bản đồ số của thành phố Hà Nội hiện nay, nếu tạm coi Cấm thành có hình vuông thì mỗi cạnh là gần 700m[5].
011.Khu di sản đang được khai quật nghiên cứu
Khu di sản đang được khai quật nghiên cứu
Trên cơ sở xác định Cấm thành như trên thì khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu ở về phía Tây của điện Kính Thiên khoảng 100m, hoàn toàn nằm trong phạm vi Cấm thành, chiếm một diện tích phía Tây của Cấm thành. Những di tích kiến trúc và di vật mà khảo cổ học phát hiện cũng chứng tỏ đây là khu di tích nằm trong Cấm thành qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long bao gồm khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và thành cổ Hà Nội. Khu di tích nằm giữa các phố Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn (trừ khu sẽ xây dựng Nhà Quốc hội), Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, với diện tích 18.395 m2.
Khu di tích nằm trong địa bàn trung tâm lịch sử và văn hoá của thủ đô Hà Nội. Trong khu vực này khảo cổ học đã phát hiện dấu tích cư trú sớm nhất của con người qua di tích văn hoá Phùng Nguyên tại lớp dưới của di tích đàn Xã Tắc (Đống Đa, Hà Nội) có niên đại khoảng giữa thiên niên kỷ II tr.Cn, trên một gò đất cao. Trong thời đại đồ đồng và đồ sắt sớm, cùng với quá trình bồi tụ, cư dân sinh sống ngày càng đông, kinh tế phát triển, kết hợp với vị trí giao thông thuận lợi, vùng đất này sớm trở thành một trung tâm chính trị, văn hoá quan trọng.
011.Sơ đồ khu di tích
Sơ đồ khu di tích
Từ năm 1788, vua Quang Trung lên ngôi Hoàng đế và đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Thành Thăng Long là trị sở của Bắc Thành quản lĩnh 11 trấn phía Bắc (Bắc Bộ). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi Hoàng đế, sáng lập triều Nguyễn năm 1802, kinh đô của triều Nguyễn (1802 – 1945) là Phú Xuân – Huế.
Trong thời gian này, Thăng Long mất vai trò kinh đô của đất nước. Năm 1803 – 1805, vua Gia Long cho phá Cấm thành và một phần Hoàng thành Thăng Long, xây dựng một toà thành mới theo kiểu Vauban của Pháp. Toà thành mới vẫn lấy trục trung tâm của Cấm thành làm trục trung tâm theo hướng Bắc – Nam hơi chệch hướng về phía Tây Bắc một ít.
Năm 1831 vua Minh Mệnh chia cả nước làm 30 tỉnh, bỏ Bắc thành và lập tỉnh Hà Nội. Thành Thăng Long mang tên mới là thành Hà Nội, là trị sở của tỉnh Hà Nội. Nhà Nguyễn vẫn giữ điện Kính Thiên và các kiến trúc trên trục trung tâm của Cấm thành Thăng Long cho đến Đoan Môn, sửa sang và xây dựng thêm một số kiến trúc mới, làm Hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi tuần du ra Bắc hay tiếp sứ nước ngoài.
Năm 1894 -1897, chính quyền Pháp phá huỷ thành Hà Nội, chỉ còn giữ lại nền điện Kính Thiên, cổng Đoan Môn của thành Thăng Long và Cửa Bắc, Kỳ Đài của thành Hà Nội.
Như vậy khu thành cổ Hà Nội vừa là trục trung tâm của Cấm thành Thăng Long, vừa là trục trung tâm của thành Hà Nội thời Nguyễn, trong lòng đất còn lưu giữ nhiều di tích Cấm thành mà những thăm dò bước đầu của khảo cổ học đã xác nhận và trên mặt đất còn bảo tồn một số di tích của Cấm thành và thành Hà Nội.
 
Ghi chú:
[1] Chiếu dời đô, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ Q 2, tr. 2b, Bản dịch , NXB Khoa học xã hội, H. 1993, tr. 241.
[2] Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Nội), Thăng Long cổ tích khảo, La Thành cổ tích vịnh, Tây Hồ chí.
[3] Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Nội), Thăng Long cổ tích khảo, La Thành cổ tích vịnh, Tây Hồ chí.
[4] Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Nội), Sđd, T. 3, tr. 170; Thăng Long cổ tích khảo.
[5] Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Hà Nội nghìn xưa, Hà Nội 1975, tr. 152, ước tính Cấm thành có chu vi 4700 m; Phạm Hân, Tìm lại dấu vết thành Thăng Long, Hà Nụị 2003, tr. 95 xác định Cấm thành hình vuông mỗi cạnh chừng 700 m.
[6] Đại Việt sử lược, Q. 1, tr. 12b. Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Q. 5, tr. 14b-15a, có ít nhiều khác biệt như nữ tường cao 5 trượng 5 tấc, dựng hơn 40 vạn gian nhà. Theo Nhị chí thập tứ thế kỷ Trung Quốc đích quyền hoành độ lượng của Quách Chính Trung, đơn vị đo chiều dài thời Đường có những sai biệt trong các tư liệu và có sự thay đổi theo thời gian, nhưng qua thống kê, theo tiêu chuẩn “quan xích” (thước của nhà nước) thì 1 thước = 29,6 cm, từ Trung Đường về sau phần lớn 1 thước trên 30 cm, bình quân là 30,68 cm (tr. 245-250). Theo Trung Quốc độ lượng hoành sử của Ngụ Thừa Lạc, thời Đường 1 thước = 31,10 cm (Thượng Hải thư điếm, 1984, tr. 65). Trong bài, tôi tính 1 thước=0,31m.
Tài liệu dẫn:
1. Chiếu dời đô, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ Q 2, tr. 2b, Bản dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993: 241.
2. Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Nội), T.3, tr. 170; Thăng Long cổ tích khảo.
3. Đại Việt sử lược, Q. 1, tr. 12b.
4. Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Q. 5, tr. 14b-15a.
5. Nguyễn Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán 1975. Hà Nội nghìn xưa, Hà Nội: 152
Nguồn:
Gs. Phan Huy Lê (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)- ashui.com

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Bản đồ cống rãnh Hà Nội, 1939 (21/04/2018)
  + TP HCM quy hoạch không gian ngầm toàn thành phố (14/04/2018)
  + KTS Trần Thanh Vân gửi chủ tịch tập đoàn SUN GROUP-CHỦ ĐẦU TƯ CHUNG CƯ 40 TẦNG 58 QUẢNG AN-TÂY HỒ (11/04/2018)
  + Tiểu thương chợ Đồng Xuân tập trung phản đối, quận Hoàn Kiếm bác thông tin đập chợ (09/04/2018)
  + Quy chế quản lý quy hoạch – Kiến trúc khu phố cổ Hà Nội Số: 6398/QĐ-UBND) (03/04/2018)
  + Đi tìm thành Bình Lỗ của nhà nước Đại Cồ Việt (03/04/2018)
  + Chuyên gia cho ý kiến về Đề án phát triển chợ Đồng Xuân-Bắc Qua (30/03/2018)
  + Vụ xe khách đâm xe cứu hỏa trên cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ (23/03/2018)
  + Ai sẽ mất chức, ai đột tử ... Nếu xây dự án cao 160m bên hồ Tây - Quảng An. (16/03/2018)
  + Lấy ý kiến người dân về mặt bằng ga tàu điện ngầm C9 ở hồ Hoàn Kiếm (09/03/2018)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo