36phophuong.vn     
Trang chủ
Xa lộ thông tin
Cuộc sống
Thăng Long-Hà Nội
Phố Hà Nội
Nét văn hóa
Những giá trị bảo tồn
 Ngày lễ và sự kiện(Âm Lịch)
 Lễ hội, phong tục, tập quán
Cải tạo, tu bổ, bảo tồn
Quy hoạch - Đô thị
Địa ốc-phong thủy
Diễn đàn
Người đẹp
Thời trang
Du lịch
Thể thao-Sức khỏe
Ẩm thực
thư giãn
Mỹ thuật
Âm nhạc
Trang ảnh xưa
Góc chụp ảnh
Trang chủ > Những giá trị bảo tồn >
  Các kiến trúc sư người pháp đã có ảnh hưởng như thế nào đến cảnh quan Hà Nội? Các kiến trúc sư người pháp đã có ảnh hưởng như thế nào đến cảnh quan Hà Nội? , 36phophuong.vn
 
Các kiến trúc sư người pháp đã có ảnh hưởng như thế nào đến cảnh quan Hà Nội?

 Kiến trúc sư Christian Pedelahore đã sống phần lớn tuổi thơ của mình ở Việt Nam và ông viết một luận án mang tên: “Hà Nội, đối tượng, người hành sự, sự biến thái của một không gian đặc biệt: sự pha tạp kiến trúc và đa dạng đô thị (1873-2000)". Trong luận án này, ông đã nêu những nét đặc trưng của ảnh hưởng của Pháp đối với kiến trúc đương đại của Hà Nội. Phần tóm tắt dưới đây chủ yếu dược lấy từ phân tích của ông:

 

 

 

 

Giai đoạn khởi đầu - Từ quân sự đến dân sự 1873 - 1910
 
Vào năm 1873, Francis Garnier đã phá huỷ Hoàng Thành Hà Nội nhưng người Pháp đã khôi phục lại khu vực này vào năm sau đó để đổi lấy sự nhượng lại đất trên bờ sông Hồng ở Đồn Thuỷ gần cuối phố Trần Hưng Đạo. Các sĩ quan Pháp đã thiết kế những toà nhà giản dị, mộc mạc với hành lang ở bốn phía. Năm 1882, Henri Rivière đảm nhận dự án Hoàng thành một năm sau đó, quân đội đã xây một con đường nối liền khu Hoàng thành với khu nhượng địa. Người Pháp phác thảo ra kế hoạch xây dựng một nhà thờ, những ngôi nhà kiểu thuộc địa đầu tiên ở phía nam thành phố, và việc giải toả khu đất quanh hồ Hoàn Kiếm. Vào năm 1885, họ bắt đầu xây dựng Khu chỉ huy quân sự bên trong Khu Hoàng thành, nơi mà trước đây là cung điện của vua, quan thời phong kiến. 
 
 
 Bản đồ Hà Nội năm 1890
 
 
Khu vực Sở Công chính Pháp bắt đầu xây dựng những dự án quy mô lớn đầu tiên khi những nhà cai trị người Pháp đầu tiên đến Hà Nội vào thập niên 1880. Những dự án này đã thay đổi bộ mặt Hà Nội. Phố Paul Bert (trước đây là phố Hàng Khay, và bây giờ là phố Tràng Tiền), mở rộng Khu phố Pháp về phía đông bằng cách lấp đầy những cái ao nằm giữa Hồ Hoàn Kiếm và sông Hồng. Công việc xây dựng được tiếp tục với sự hình thành của ba đại lộ nữa: Rollandes (giờ là phố Hai Bà Trưng), Carreau (nay là phố Lý Thường Kiệt), và Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo).
 
Vào khoảng từ năm 1880 đến năm 1890, chủ nghĩa duy lý của phương Tây pha trộn với triết học phương Đông đã tạo ra một nền văn hoá lai tạp mà trong đó kiến trúc Hà Nội đã báo hiệu sự ra đời của Trường Kiến trúc Đông Dương vào những năm 1930.
 
Giai đoạn hai của phát triển đô thị chú trọng vào việc xây dựng các đinh thự quốc gia, không còn sắp đặt một cách ngẫu nhiên ở những vùng lân cận khác nhau nữa mà, trái lại, chúng được xây dựng trong những khu riêng biệt tạo nên hình dáng và sự hài hoà của thành phố. Kiến trúc sư Auguste-Henri Vildieu, nhà thiết kế cho chế độ thuộc địa, nóng lòng muốn khẳng định tài năng của mình, đã phản đối chủ nghĩa vị lợi của thập niên 1880. Ông thu hút sự chú ý của người Việt Nam bằng sự vững chắc và phong cách trang trí của kiến trúc tân cổ điển. 
 
Trong khoảng thời gian từ năm 1892 đến năm 1906, Vildieu đã thiết kế Bưu điện Hà Nội (số 1 Lê Thạch, hoàn thành vào năm 1896); Tổng hành dinh Phân khu quân đội Pháp (28 Lý Nam Đế, hoàn thành năm 1897); và nhà tù Hỏa Lò (sau này thường được thế giới biết đến với cái tên “Hanoi Hilton” tại số 1 phố Hỏa Lò, hoàn thành vào năm 1899). Sau năm 1900, ông còn thiết kế nhiều toà nhà đồ sộ hơn, bao gồm Toà án Tối cao (48 Lý Thường Kiệt, 1900 - 1906), Phủ Toàn quyền Đông Dương (đường Hùng Vương, 1901 - 1906), và Dinh Thống sứ Bắc Kỳ (12 Ngô Quyền, hoàn thành vào năm 1911). Việc xây dựng thời kỳ thuộc địa đạt đến đỉnh cao với việc xây dựng Nhà hát Lớn Hà Nội, toà nhà kiểu tân cổ điển đã là một gánh nặng cho ngân quỹ của Pháp trong hơn mười năm. 
 
Emest Hébrard và kiến trúc địa phương, thập niên 1920
 
Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ ở Hà Nội vào năm 1923 tại Trung tâm Dịch vụ Quy  hoạch và Kiến trúc đô thị và đã khởi đầu một sự đổi mới và mở rộng của kiến trúc thuộc địa. Là một nhà quy hoạch đô thị, ông đã phác thảo một khu hành chính mới cho chính quyền từ bên ngoài Phủ Toàn Quyền tới phía nam của Hồ Tây. Ông cũng dự định thống nhất các dịch vụ hành chính đã có và xây mới thêm để mở rộng thành phố về phía tây, tới sông Tô Lịch và về phía đông, tới sông Hồng. Tuy nhiên kế hoạch của ông đòi hòi quá nhiều vốn vào lúc mà nền kinh tế Pháp đang suy yếu. Dù vậy, những kế hoạch của ông vẫn là tài liệu tham khảo chính thức cho đến tận thập niên 1940 và gợi nguồn cảm hứng và chỉ dẫn cho những dự án về sau này của Louis-George Pineau.
 
Là một kiến trúc sư, Hébrard đã cống hiến nhiều cho ba dự án chính: Đại học Đông Dương (nay là Đại Học Hà Nội ở 19 Lê Thánh Tông, hoàn thành vào năm 1926), Sở Tài Chính Bắc Kỳ (nay là Bộ Ngoại Giao, ở cuối đường Điện Biên Phủ, hoàn thành năm 1931) và Đông Dương Bác cổ hay còn gọi là Bảo tàng Louis Finot hoặc Viễn Đông Bác cổ (nay là Bảo Tàng Lịch Sử, số 1 Phạm Ngũ Lão, được xây từ năm 1925 đến 1932). Ông đã sử dụng kiến thức về kiến trúc Trung Quốc, Việt Nam và Khơ-me trong nỗ lực truyền tải tinh hoa của các nền văn hoá địa phương qua kiến trúc và đồng thời chứng tỏ sự tinh thông về kỹ thuật của một môi trường cụ thể. Ông đã phác thảo ra khung của kiến trúc trong một bối cảnh cụ thể mà người ta gọi là: “Kiểu kiến trúc Đông Dương”.
 
     
 
Kiến trúc Pháp hiện đại ở Hà Nội - 1930- 1945
 
Kiểu kiến trúc Đông Dương, khởi nguồn bởi  Hébrard vào cuối thập niên 1920 đã dẫn đến một số lượng các dinh thự tương đối hạn chế bởi các Uỷ ban nhà nước đang được thu nhỏ lại. Tuy nhiên, việc xây dựng những biệt thự tư nhân đã trở thành cơ hội báu bở cho một vài kiến trúc sư được đặc quyền, những người đã tạo ra một sự hồi sinh của các thiết kế trong suốt thập niên 1940. Đáng kể nhất trong số những kiến trúc sư này là Arthur Kruze, giáo sư và là giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông, đã nắm bắt được những yếu tố cơ bản của kiểu kiến trúc Đông Dương trong khi xây dựng những biệt thự cho khách hàng người Pháp và người Việt Nam. Những kiến trúc sư được chỉ định bởi Kruze đã hoàn tất việc xây dựng những ngôi biệt thự trong khu dân cư của đại lộ Carnot (nay là phố Phan Đình Phùng) gần Phủ Toàn quyền như là một phần của kế hoạch bất động sản Credit Foncier.
 
 
Kruze và George Trouve đã chỉ định các kiến trúc sư xây dựng Nhà Băng Đông Dương (49 Lý Thái Tổ, hoàn thành năm 1930) và Văn phòng của Credit Foncier ở phố Tràng Tiền. Nghệ thuật trang trí hiện đại trang nhã của hai toà nhà này chỉ còn giữ lại một vài nguyên lý sắp xếp của kiểu kiến trúc Đông Dương, nổi bật là những phần nhà ba vách xây lồi ra phía ngoài. Các toà nhà này có phần nào nặng nề và quá đơn giản không giống với công trình của Hébrard.
 
Ngay sau đó, một nhóm sinh viên tốt nghiệp đại học của Việt Nam đã thay thế xu hướng này bằng một tầm nhìn mang tính tiên phong và quốc tế hơn. Lớp kiến trúc sư người Việt Nam đầu tiên này đã được tiếp nhận một nền giáo đục đặc biệt chất lượng hàng đầu chia thành hai phần là nghiên cứu về những dinh thự cổ và tiếp xúc với những tư tưởng châu Âu mới. Tuy nhiên, người Pháp đã không để các kiến trúc sư Việt Nam tham gia thiết kế các công sở. Thay vào đó, người Việt Nam tạo danh tiếng cho mình bằng việc xây các ngôi biệt thự tư nhân, nhờ đó củng cố vai trò quan trọng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật với việc tạo ra những kiểu kiến trúc mới. 
 
 
Trong vòng mười năm, các kiến trúc sư người Việt Nam đã xây dựng hơn một trăm toà biệt thự kết hợp giữa chủ nghĩa duy lý biệt lập với các cách sắp đặt tự do hơn. Họ đã đưa vào thiết kế của mình phần nhô ra của mái nhà nhằm mục đích chống nóng, cầu thang có mái che, mặt tiền uốn cong, mái bằng, cửa sổ tròn và họ cũng sử dụng vữa và sơn trang trí kiểu châu Á ở mặt ngoài. Bằng cách đó, họ đã tạo ra một khu hiện đại và thay đổi bộ mặt của Hà Nội. Những biệt thự này tập trung trên các trục đường chính ở phía nam Khu Thành cổ: phố Lê Hồng Phong (Đại sứ quán Rumani ở số 5), đường Trần Phú (Đại sứ quán Singapore ở số 41 - 43 và Quỹ Bảo tồn Động vật hoang dã Thế giới ở số 53), Phố Lý Thường Kiệt (Đại sứ quán Cuba và khu nhà ở số 65 và Phòng Thí Nghiệm Nguyên Tử Quốc Gia ở số 59), Phố Trần Hưng Đạo (Đại sứ quán Pháp, Ấn Độ và Căm-pu-chia ở số 57, 58 và 71 tương ứng, và Câu lạc bộ người cao tuổi ở số 91).
 
L.G:Pineau và qui hoạch đô thị mang tính chức năng và bối cảnh - 1930-1945
 
L.G.Pineau đến Hà Nội vào năm 1930, và chứng kiến một chính quyền thực dân quan tâm nhiều đến cai trị hơn là phát triển. Thời gian cho những dự án xây đựng quy mô lớn đã qua. Pineau, người có thể thoải mái hơn trong quy hoạch đô thị hơn là quan tâm đến kiến trúc, đã tập trung vào đổi mới những vùng lân cận có giá trị lịch sử bằng cách phân tích mỗi toà nhà của thành phố và làm việc trên những cấu trúc đã có sẵn. Hơn thế nữa, ông đã khởi nguồn ý tưởng về sự phát triển của miền Tây và Nam Hà Nội. Cuốn L’Urbanisme en Indochine (1943) (Đô thị ở Đông Dương) của ông đã chỉ rõ một triết lý về sự can thiệp của bối cảnh bằng việc nhận rõ sự thích hợp, chức năng và văn hoá của một thành phố buôn bán và chấp nhận tính không đồng nhất cơ bản của nó. Quy hoạch đô thị ở Hà Nội chuyển từ sự hợp lý hoá được ưu tiên mang tính chương trình về thương mại và các điều kiện khí hậu trong kiến trúc bậc thầy của Hébrard sang những vấn đề về văn minh và việc bảo tồn phong cách sống truyền thống của Pineau.
 
 
Năm 1940, người Nhật chiếm đóng Đông Dương nhưng vẫn duy trì Chính quyền Pháp cho đến tháng 3 năm 1945. Trong suốt thời gian Nhật chiếm đóng, những cấp bậc cao của Pháp bắt đầu sử dụng kiến trúc như là một "sửa đổi xã hội". Jean Decoux, Toàn quyền Pháp trong thời gian này, đã ra sức củng cố sức mạnh của Pháp bằng việc xây dựng những công sở lớn. Các nhà thiết kế cố gắng lấy lại kiểu kiến trúc lai tạp có ý nghĩa quan trọng với Hébrard trước đây. Tuy nhiên, nhu cầu lúc đó dã phải nhường bước cho một kiểu chính thức thiên về sự đồ sộ và cân xứng trong giới hạn của chủ nghĩa chức năng có điều chỉnh mạnh nhưng với mái cong để thể hiện "sự thuần Việt" của thành phố. 
 
 
Nỗi nhớ quê nhà của kẻ thực dân đã được phản ánh như thế nào trong kiến trúc Pháp của Hà Nội?
 
Đi dọc các con phố của Hà Nội, du khách thấy rất nhiều toà nhà được xây dựng trong thời Pháp thuộc: một ngôi nhà ở phố Hàng Khay từ năm 1886, một ngôi nhà khác ở phố Cửa Nam từ năm 1902, một toà nhà ở phố Lãn Ông với con số 1926 ở trên mặt tiền. Những ngôi nhà này là nhân chứng về một thời kỳ lịch sử mà người Việt Nam đôi khi muốn quên đi.
 
Khu vực Nam Hồ Hoàn Kiếm vẫn giữ được nhiều kiểu kiến trúc đa dạng. Bên cạnh ảnh hưởng của kiểu kiến trúc vùng miền của Pháp, chúng ta còn thấy những kiểu kiến trúc khác của Mỹ và châu Âu gồm chủ nghĩa tân thời, chủ nghĩa tân cổ điển, và những phong trào kiến trúc lai tạp giữa phương Tây và châu Á. 
 
Các phố ở khu vực này được xây dựng giống như một bàn cờ. Mỗi ô vuông của bàn cờ tượng trưng cho một lô đất được phân phối cho một sĩ quan Pháp và gia đình của anh ta để xây dựng một ngôi biệt thự có vườn bao quanh. Kiểu kiến trúc phụ thuộc phần nào vào địa vị xã hội của người chủ đầu tiên, những người thường làm việc với kiến trúc sư của mình về thiết kế. Kiểu kiến trúc cũng thể hiện nỗi nhớ nước Pháp bởi vì những sĩ quan Pháp đến đất nước Việt Nam xa xôi thường thích sống trong những ngôi nhà gợi nhắc họ về thành phố quê hương. 
 
Người ta thấy kiến trúc các vùng của nước Pháp được phản ánh trong những toà nhà công và tư rải rác khắp Hà Nội, nhưng tập trung với mật độ nhiều hơn những khu nhà ở khu phố Tây. Chúng ta có thể tìm thấy nguồn gốc kiến trúc của những ngôi nhà này với những phong cách của Pari, miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
 
 Các kiến trúc sư như Moncet, Jacques, Lasgiquet, Leonard, và cả những kiến trúc sư người Việt Nam được Pháp đào tạo có xu hướng sao chép các thiết kế phương Tây để đáp ứng sở thích của người Pháp và những người Việt Nam thuộc tầng lớp thượng lưu, nthững người đã theo lối sống Pháp. Những nhà thiết kế này đã ghép kiến trúc bản địa Pháp có một nguồn gốc riêng biệt trong một vùng hoặc tỉnh cụ thể và kết hợp chúng với các kiểu kiến trúc địa phương khác. Mỗi kiểu được ghép như vậy là kiểu địa phương độc đáo và phù hợp với điều kiện khí hậu và tự nhiên của địa phương đó. 
 
Hà Nội có ít cấu trúc kiểu địa phương của Pháp hơn các thành phố nghỉ mát như là Đà Lạt, Sa Pa và Bạch Mã. Những kiểu phổ biến của Pháp đã ảnh hưởng mạnh đến các công trình sáng tạo sau này của các kiến trúc sư, những người tìm kiếm những phương pháp thích hợp để có thể thích ứng với điều kiện tự nhiên ở Việt Nam. 
 
Miền Bắc nước Pháp
 
Kiến trúc của vùng tây bắc nước Pháp đặc trưng ở hệ thống mái nhiều mặt. Mái rộng nhưng được sắp xếp gọn gàng. Hơn nữa, sự phân chia cấu trúc chính và phụ rất rõ rệt. Trang trí đơn giản và tập trung vào các góc, không phức tạp bằng kiến trúc cổ điển. 
 
 
 
Kiến trúc của đông bắc Pháp thường hay sử dụng các vật liệu như gỗ rừng. Mái chính thì dốc để tuyết trượt xuống chứ không đọng lại và làm sụp mái. Ở vùng núi, những ngôi nhà với những ngọn tháp nhỏ cao gợi cảm giác toàn cảnh hoành tráng của vùng đồng quê xung quanh. Hình đáng của những toà nhà này đơn giản và được bố trí trên một mặt phẳng thẳng đứng. Hệ thống cửa và cửa sổ sử dụng các vòm để trang trí, và cửa sổ có một mái hiên nhô để tránh mưa nắng. Kiến trúc này kết hợp nhiều thành phần cấu trúc độc lập với những mái có độ cao khác nhau trong một ngôi nhà riêng lẻ. Nói chung, những công trình kiến trúc theo kiểu miền Bắc nước Pháp trông có vẻ cao và uy nghi, có tính thẩm mỹ cao. Kỹ thuật kiến trúc theo nguyên tắc lặp lại và liên tục suốt mặt phẳng thẳng đứng. Ví dụ như một mẫu trang trí hình chữ nhật sáu mặt được lặp lại từ đỉnh đến chân của các cửa và tường, và trên các con sơn đỡ phần mái nhô ra phía ngoài. 
 
Bắt đầu từ năm 1921, có nhiều biệt thự theo kiểu miền Bắc nước Pháp được xây dựng dọc theo các phố chính của khu vực quận Ba Đình. Những biệt thự này phần nào náu mình phía sau những khu vườn xanh tươi và những cây đẹp. Nhiều nhà ở khu vực này vừa giữ được kiểu bản địa vừa có được vẻ nguy nga. 
 
Miền Trung nước Pháp
 
Kiến trúc của miền Trung nước Pháp, bao gồm vùng tây nam và đông nam, có một sự sắp xếp ứng dụng một cách tự do những yếu tố trang trí, thường và không đối xứng theo luật lệ. Mái không đòi hỏi phải dốc như ở miền Bắc, nơi có nhiều tuyết. Mặt tiền được tạo thành bởi các yếu tố thẳng đứng. Khung kính cửa sổ được chia thành nhiều ô và có ít hoạ tiết trang trí ở trên tường hơn. Tuy nhiên các chi tiết trang trí bao gồm hoạ các tiết trên cửa và cửa sổ thì tinh xảo và thanh nhã, đặc biệt là các cửa sổ ban công tầng hai cũng như các cửa tò vò phía dưới mái nhà. Rui và con sơn bằng gỗ, đôi khi được làm một cách cầu kỳ và độc đáo, chống đỡ nóc nhà và mái hiên. 
 
Một vài cấu trúc ở Hà Nội vẫn còn những phần phụ hình tháp và ban công nhô hẳn ra ngoài, một kiểu kiến trúc của vùng đồi núi ở miền trung nước Pháp. Mặt phẳng thẳng đứng hẹp với các hoạ tiết trang trí trên tường là nét đặc trưng của những ngôi nhà ở miền trung nước Pháp.
 

Miền Nam nước Pháp 
 
Miền nam nước Pháp giáp giới với Tây Ban Nha và Địa Trung Hải. Do vùng này nóng và ít mưa nên mái nhà phẳng và có độ nghiêng nhỏ. Mái được lợp bằng đá ác-đoa để giảm sức nóng của mặt trời. Những nhà này có nhà kính và sân nhỏ ở phía trước và được xây bằng vật liệu thô, thiên nhiên. Sự sắp xếp mặt tiền không đối xứng. Một nét nổi bật của nhà kiểu phương Nam là lối vào bắt đầu từ nền nhà và mở rộng về phía trước, tăng thêm diện tích cho phía trước của toà nhà và tạo ra sự tao nhã.
 
 
Mái hiên và kiến trúc tổng thể tận dụng các chi tiết trang trí trên mái, các cửa sổ trên mái ở tầng hai và những cột trụ bằng gạch. Những ngôi nhà này thường được thiết kế với các chi tiết được sắp xếp theo chiều ngang. Các cửa ra vào rộng chiếm một phần lớn của mặt phẳng thẳng đứng, và một hệ thống các mái nhà nhỏ nhô ra giống như những mái hiên phỏng theo kiến trúc cổ điển ý. Không có nhiều toà nhà theo kiểu miền Nam nước Pháp được xây dựng ở Hà Nội; phần lớn trong số ít đó đã được sửa đổi để thích hợp với khí hậu ẩm, khắc nghiệt của Hà Nội. Một vài toà nhà này đã kết hợp những chi tiết vay mượn của kiểu nhà miền trung nước Pháp.
 
Trong suốt thập niên 1940, một tầng lớp thương thân Việt Nam giàu có, một tầng lớp trung lưu Việt Nam mới và một tầng lớp công chức Việt Nam làm việc cho chính quyền Pháp xuất hiện ở Hà Nội. Họ sống ở khu vực mới mở mang ở phía nam Hà Nội quanh bức tường thành trước đây, một khu vực được mở rộng đến hồ Thiền Quang. Khu vực đó ngày nay bao gồm các phố Bùi Thị Xuân, Triệu Việt Vương và Mai Hắc Đế. Những ngôi nhà của người Việt Nam này chủ yếu là những biệt thự cỡ nhỏ với các nhà phụ liền kề. 
 
Kiến trúc Pháp đã đóng vai trò như thế nào trong đặc trưng kiến trúc Hà Nội?
 
Những kiểu kiến trúc phổ biến của Pháp đã ảnh hưởng tới  công việc sáng  tạo của những kiến trúc sư người Pháp mà những người này lại đã cố gắng làm cho những kiểu này thích ứng được với môi trường nhiệt đới của Việt Nam. Kết quả là một sự trang nhã vô song: "Kiểu kiến trúc Đông Dương''. Các toà nhà được xây dựng bởi những kiến trúc sư người Pháp này và bởi những người Việt Nam đã phát triển hơn nữa các kiểu cách này và tạo nên một phần của di sản kiến trúc và văn hoá của Hà Nội, và đặc biệt, làm tăng thêm sự phong phú của Khu phố Pháp ở thủ đô.
 
 
Địa giới Khu phố Pháp ở Hà Nội
Địa giới Khu phố Pháp ở Hà Nội
 
Đâu là "Khu phố Pháp"?
 
Trong suốt thời thuộc địa, một người Việt Nam bước chân đến Phố Pháp (Ville Francaise) đôi khi còn được gọi là Khu phố Tây, cảm thấy như mình là một người ngoại quốc mặc dù đó là chính thủ đô của nước mình. Ngày nay, người Hà Nội vẫn còn gọi khu vực đó của thành phố là “Khu phố Pháp”.
 

Không lâu sau, Nhà hát lớn đang hoàn thiện phần mái, phố xá thay đổi nhiều. Không còn cây xanh. Cột và đèn đường trên phố chuyển dùng loại khác. Bức tường hồi ngôi nhà đầu phố Nguyễn Xí  dán đầy các affiches. Chưa thấy Cinema Palace. Mặt tiền bách hóa Debeaux có thay đổi nhỏ với hai ban công chìa ra phố, biển quảng cáo đồng hồ Omega treo trên cửa chính ra vào.

Nhà hát lớn đang hoàn thiện phần mái, phố xá thay đổi nhiều. Không còn cây xanh. Cột và đèn đường trên phố chuyển dùng loại khác.
 
Trục đường chính của Khu phố Pháp là phố Tràng Tiền, trước đây được gọi là phố Paul Bert để tôn vinh viên Thống sứ người Pháp ở Bắc Kỳ vào năm 1886. Tràng Tiền nổi tiếng trong suốt thời kỳ thuộc địa bởi toà nhà bách hoá lớn - Les Grands Magasin Reunis - ở góc giao nhau của hai phố Tràng Tiền và Hàng Bài, cùng với những quán cà phê có nhạc sống, những nhà hàng và khách sạn lộng lẫy, những rạp chiếu bóng sang trọng, và dĩ nhiên là Nhà hát Lớn Thành phố tráng lệ. Suốt thời thuộc địa, những đại lộ thoáng đãng gần đó cũng mang tên Pháp, như là đại lộ Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo) lấy tên thủ tướng Pháp Léon Cambetta (1838-1882) và đại lộ Félix Faure (nay là đường Trần Phú) để tôn vinh Tổng thống Cộng hòa Pháp (1895 - 1899). Những hàng cây cao vút và những toà biệt thự sang trọng kiểu tân cổ điển trên những phố này tương phản với những con hẻm hẹp, đông đúc không có bóng cây và chen chúc người ở Khu phố cổ. 
 
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc vào năm 1954, người Việt Nam đã tiếp quản Khu phố Tây này. Tuy nhiên, không bao lâu sau đó Việt Nam lại phải đối mặt với một cuộc chiến tranh khác chống Mỹ. Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, ở Việt Nam người ta có ý kiến chung về sự cần thiết phải bảo tồn di sản kiến trúc của Hà Nội, bao gồm thành cổ, Khu phố cổ, và Khu phố Pháp. Trong nhiều năm qua, nhiều chính phủ, tổ chức và cá nhân nước ngoài - gồm cả người Pháp và người Mỹ - đã góp phần vào việc bảo tồn di sản kiến trúc Pháp của Hà Nội.
 
Vào năm 1875, người Pháp chiếm giữ trung tâm của khu phố Tây trên bờ sông Hồng như là một sự nhượng bộ quân sự sau khi họ chiếm được Hà Nội lần đầu tiên. Khu phố Pháp dần dần mở rộng về phía nam của Khu phố cổ và trải rộng mô hình ô vuông bàn cờ xuống phía đông Hồ Hoàn Kiếm đến tận đê sông Hồng, do vậy hình thành nên hình dáng ngày nay của phía nam quận Hoàn Kiếm. 
 
Hoàn Kiếm đã và đang là trung tâm hành chính, kinh tế, thương mại và dịch vụ công cộng của Hà Nội. Những ví dụ nổi bật của kiến trúc Pháp ở khu vực này bao gồm Nhà thờ thánh Giu-se (số 40, phố Nhà Chung, thiết kế bởi một kiến trúc sư hiện vẫn chưa rõ tên và được hoàn thành vào năm 1883); Nhà hát Lớn Thành phố (phiên bản thu nhỏ của Nhà hát Lớn ở Paris), thiết kế bởi Charles Garnier, số 1 phố Tràng Tiền, hoàn thành năm 1911, Nhà khách Chính phủ số 12 phố Ngô Quyền, trước đây là Dinh Thống sứ Bắc Kỳ, hoàn thành bởi kiến trúc sư Auguste-Henri Vildieu vào năm 1911), Trụ sở Tổng công đoàn (trước đây là Công ty Hoả xa Vân Nam, 65 phố Quán Sứ, hoàn thành bởi một kiến trúc sư hiện vẫn chưa biết rõ tên vào năm 1902); Tòa án Tối cao (48 phố Lý Thường Kiệt, xây dựng vào khoảng từ 1900 đến 1906 bởi Auguste - Henri Vildieu); Bảo tàng Lịch sử (trước đây là Bảo Tàng Louis Finot - còn có tên là Viễn Đông Bác cổ hoặc Đông Dương Bác cổ - ở số 1 Pasteur (số 1 phố Yersin, hoàn thành bởi kiến trúc sư Caston Roger vào năm 1930), cùng với nhiều biệt thự tư nhân tráng lệ. 
 
Những tòa nhà thời Pháp thuộc
 
Suốt thời thuộc địa, Khu phố Tây cũng bao gồm cả một khu vực rộng lớn phía ngoài  Khu thành cổ, được giới hạn bởi Hồ Tây ở phía bắc và sông Tô lịch ở phía tây. Ngày nay, khu vực mở rộng này thuộc quận Ba Đình, với nhiều công trình kiểu kiến trúc Pháp: Phủ Chủ Tịch (trước đây là Phủ Toàn quyền Đông Dương, nằm trên đường Hùng Vương, được thiết kế bởi Auguste - Henri Vildieu và hiện vẫn chưa rõ ngày hoàn thành); Bộ Ngoại Giao (trước đây là Sở Tài chính Đông Dương ở cuối đường Điện Biên Phủ, hoàn thành bởi kiến trúc sư Ernest Hébrard vào năm 1931); trụ sở Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đây là Trường Trung học Albert Sarrault ở 1B phố Hoàng Văn Thụ, hoàn thành vào năm 1919 bởi Verneuil và Gravereaud), cùng nhiều ngôi nhà đẹp nay là các đại sứ quán. 
 
Những nét nổi bật của Nhà hát lớn Hà Nội là gì?
 
Việc xây dựng Nhà Hát lớn Hà Nội được hoàn thành vào năm 1911. Toà nhà này nằm trên một mảnh đất có hình dáng khác lạ và được bao quanh bởi một khu vườn. Sự sắp xếp theo đường chéo của những con phố chung quanh đã tôn lên vị trí nổi bật của Nhà Hát lớn. Mặt tiền  của Nhà hát làm ta nhớ đến Nhà hát Opera Garnier ở Pari. Ban công nhà hát được phân chia bởi những cột trụ theo kiểu kiến trúc Ionic và Doric và hai bên cạnh mỗi bên có một phần nhà nhô ra. Toà nhà dài, hình chữ nhật trông rất hoành tráng và chẳng có dấu vết gì của kiến trúc địa phương. Phần bên trong nội thất của nó trông cũng rất tráng lệ. Sự kết hợp của các chuồng gà và lô mang tính trang trí lơ lửng giữa những cột trụ vững chắc kiểu Corin tạo ấn tượng về sự cân đối hài hoà. Gian ghế chính trông có vẻ bình thường nhưng có thể đủ chỗ cho 800 người. 
 
Nhà hát Lớn Hà Nội - nhân chứng lịch sử
 
Những nét đặc biệt của Dinh Thống sứ bắc kỳ trước đây?
 
Việc xây dựng Dinh Thống sứ Bắc kỳ ở 12 phố Ngô Quyền được hoàn thành vào năm 1918. Hiện nay nó được sử dụng làm Nhà khách Chính phủ để đón tiếp những vị khách quan trọng. Dinh thự này là một phần không thể thiếu của khu hành chính Hà Nội nhưng trông nó giống như một toà lâu đài. 
 
Kiến trúc toà nhà lấy mẫu từ thời Na-pô-lê-ông đệ tam (1808 - 1873), nhưng vẫn thể hiện những chi tiết phong phú, thanh thoát và hầu hết là kiểu rô-cô-cô. Mỗi yếu tố của mặt tiền đều liên quan với các yếu tố khác trong một sự hài hoà tuyệt vời - từ kiểu mái Mansard của Pháp đến mái đua gián đoạn và trụ bổ tường lonic đến cầu thang dẫn đến cổng vòm có mái giống hình vỏ sò độc đáo thuận lợi cho mùa mưa. 
 
Nhà khách Chính phủ là một minh hoạ tốt về cấu trúc cân đối sân khấu: ở mỗi bên đều có đường dốc thoai thoải dành cho ô tô, và một chái nhà hai tầng với năm gian, được phân cách bởi lan can. Phần bên trong có tính chất lựa chọn hỗn hợp với một phòng lễ tân lớn toả ra một dẫy các phòng họp ở phía mặt đường. Một hành lang ngăn cách những phòng này với hai văn phòng ở phía vườn.
 
 
 
Đông và Tây đã gặp nhau như thế nào trong cuộc sống của kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên (và đồng thời cũng là cuối cùng) của thế hệ trước cuộc kháng chiến chống Pháp? 
 
Ông Ngô Huy Quỳnh là một người cuối cùng còn lại trong số sinh viên tốt nghiệp ngành kiến trúc của trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trường Pháp đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đào tạo các hoạ sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư người Việt Nam. Mặc dù chúng ta chưa bao giờ biết được một cách chắc chắc, nhưng câu về chuyện cuộc đời của ông Quỳnh được kể dưới đây có thể là lý do tại sao trong suốt thập niên 1970 một phần của thủ đô Việt Nam lại không được chuyển đi từ địa điểm "bên trong sông" (nghĩa của tên Hà Nội) đến vùng trung du tỉnh Vĩnh Phú như kế hoạch.
 
Ông Quỳnh đã tóm tắt cuộc đời công tác của mình như sau:
“Tôi cho rằng mình là kiến trúc sư Việt Nam chính cống nhưng là người có cơ hội tiếp thu những ảnh hưởng tốt nhất của phương Tây. Tôi sinh năm 1918, trong một gia đình Nho giáo. Cha tôi là trợ lý cho một viên quan huyện của tình Bắc Giang, cách Hà Nội 50 cây số về phía bắc. Mẹ tôi dạy tôi chữ Hán. Tôi có một anh trai và một chị gái. Sau khi cha tôi mất, lúc đó tôi mới lên mười, anh tôi là một công chức và chăm lo cho cả gia dình. Chúng tôi theo anh về các tỉnh Nam Định, Quảng Ninh và Hải Phòng theo sự bổ nhiệm công tác của anh.
"Khi còn nhỏ, tôi thích vẽ cây cối và hoa lá. Tôi và hai người bạn đã có những bài học về nghệ thuật khi chúng tôi học trường thành chung ở Nam Định. Tôi lên Hà Nội vào năm 1938, lúc đó tôi mười tám tuổi. Tôi muốn học mỹ thuật nhưng dự cả hai kỳ thi vào ngành mỹ thuật và kiến trúc ở Trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Chỉ có 5 chỗ cho mỗi khoá học. Tôi đỗ thứ sáu về môn mỹ thuật nhưng đỗ đầu cho môn kiến trúc và vì thế tôi trở thành một kiến trúc sư.
"Tôi sống với một gia đình ở gần trường và trả cho chủ nhà 9 đồng Đông Dương một tháng phòng và tiền cơm. Tôi không có nhiều bạn ở trường vì hầu hết sinh viên đều xuất thân từ các gia đình giàu có. Tôi quá nghèo nên không thể trả dược tiền học phí, nhưng nhà trường cũng chẳng bao giờ đòi hỏi số tiền đó. Tôi tham dự các lớp học vào ban ngày. Tối đến tôi kèm trẻ em con nhà giàu học tại nhà họ để kiếm tiền. Sau đó tôi làm bài tập về nhà đến tận nửa đêm. Tôi thích âm nhạc và thưởng thức để chơi ghi-ta và hát cho đến rất khua. Một lần tôi về nhà và phát hiện ra là đồ đạc của mình đã bị lục soát. Chỉ đến lúc đó tôi mới biết rằng mình ở chung chỗ với ban biên tập của báo Cộng sản “Tiếng nói của chúng ta”. Bất cứ khi nào tôi đi ra ngoài đều có mật thám của Pháp theo sau.
"Hội sinh viên của trường Đại học Đông Dương có một tờ tạp chí. Tôi trở thành tổng biên tập của tạp chí đó vào năm 1941. Một hôm tại một cuộc họp tôi thấy hiệu trưởng của trường Đại học Đông Dương đưa một bản phô - tô của tờ tạp chí cho chủ nhiệm khoa ở trường tôi. Nhà trường đã bàn về sự vượt quá giới hạn của tôi tại một cuộc họp đặc biệt và tôi đã bị buộc tội là quá khe khắt trong đánh giá về mỹ thuật ở Đông Dương. Tuy nhiên tôi đã có thể tự bảo vệ mình. Hội đồng kỷ luật đề nghị tôi nộp một bản viết dể xin lỗi nhưng tôi không chịu. Tôi ngạc nhiên khi mà họ không đuổi tôi khỏi trường. Tôi đoán rằng ngoài việc tôi là một sinh viên xuất sắc, thầy giáo tôi, ông Arthur Kruze đã có lời nói đỡ cho tôi với chủ nhiệm khoa. Nhân dây tôi cũng nói thêm, ông A.Kruze là người đã thiết kế toà nhà mà này nay là trụ sở của Nhà Xuất Bản Thế Giới ở số 46 Phố Trần Hưng Dạo, Hà Nội.
"Tôi tiếp tục vẽ tranh. Một lần hai sinh viên của khoa Mỹ Thuật và tôi tổ chức một triển lãm tranh và đã bán hết số tranh của mình. Mỗi người chúng tôi thu được khoảng 300 đồng, đủ cho một chuyến đi vẽ ở Huế, và tại đây chúng tôi đã có các chuyên du ngoạn nhiều nơi bằng thuyền. Sau một tháng, các bạn của tôi trở ra Hà Nội còn tôi thì tiếp tục đi vẽ tranh ở Sài Gòn, Đà Lạt, rồi Angkok Wat ở Căm-pu-chia.
“Khi tôi là sinh viên năm thứ ba ở Trường Cao đẳng, một người bạn đã giới thiệu tôi với một người đàn ông giàu có. Sau nà ông ta đã đề nghị tôi thiết kê một ngôi biệt thự mà ngày nay nằm trên đường Nguyễn Du ở Hà Nội. Lúc đó, tôi dang nghiên cứu về chùa Việt Nam, vì thế mà tôi đã phác thảo một ngôi nhà có mái cong như mái chùa. Ông ấy thích và đề nghị tôi giám sát việc xây dựng. Hàng ngày tôi đến lớp nhưng trốn ra ngoài qua cửa sổ để thăm công trường. Vì tôi chưa bao giờ nghiên cứu về những yếu tố của kết cấu xây dựng, tôi nài nỉ người kỹ sư chia sẻ với tôi kiến thức của ông ta. Sau khi nghe ông ta nói, tôi viết ngay lời chỉ dẫn lên tường để ông ta làm theo.
“Một ngày, khi đến công trường, tôi cảm thấy có điều gì khác thường. Tôi kiểm tra chiều cao của các bức tường và thấy chúng cao hơn trong bản thiết kế của tôi hai viên gạch. Tôi hỏi ai là người đã quyết định tăng độ cao. Người kỹ sư nói đó là ý kiến của chủ nhà. Tôi bảo ông ta hạ tường thấp xuống hai viên gạch nếu không tôi sẽ bỏ hợp đồng. Khi tôi quay lại kiểm tra, ông ta đã hạ tường thấp xuống đúng như bản thiết kế ban dầu. Ngôi nhà này nằm trong số những ngôi nhà đầu tiên dược thiết kế bởi các kiến trúc sư Việt Nam dược Pháp đào tạo ở Hà Nội. Ngày nay ngôi nhà vẫn còn ở số 84 phố Nguyễn Du: một phần là quán cà fê, phần còn lại là văn phòng.
"Chiến tranh nổ ra sau khi tôi tốt nghiệp và trường của chúng tôi phải đóng cửa. Tôi là một trong số những sinh viên tốt nghiệp cuối cùng. Tôi tham gia lực lượng chống Pháp tại căn cứ kháng chiến và nhận nhiệm vụ thiết kê sở chỉ huy của các lực lượng chống Pháp.
“Khi quân Pháp rút di vào năm 1954, tôi nhận trách nhiệm quy hoạch kiến trúc đô thị cho chính phủ và dược giao vạch kế hoạch phát triển Hà Nội. Năm 1956, tôi vẽ một bản đồ thể hiện tiềm năng phát triển của Hà Nội, bao gồm phần phía Đông của sông Hồng. Hà Nội vẫn đang mở rộng về phía đó từ đầu thập niên 1990, nhưng tôi không biết liệu các nhà lãnh đạo thành phố có tham khảo bản kế hoạch của tôi không.
Suốt đầu thập niên 1960, tôi dẫn đầu một đội gồm ba trăm công nhân Việt Nam thiết kế và xây dựng trụ sở của Phong trào Cách mạng Lào ở Khang Khay, gần Cánh đồng Chum ở Lào. Tôi nhớ là suốt những năm 70 người ta có bàn về việc dời một phần của Hà Nội lên khu vực đồi núi của tỉnh Vĩnh Phú để việc mở rộng thủ đô không lấn vào đất nông nghiệp). Tôi đưa ra một bản báo cáo chứng minh sự cần thiết của việc giữ nguyên vị trí của thủ dô. Bản báo cáo này cũng được gửi đến các cơ quan chính phủ khác nhau, bao gồm cả Văn phòng Thủ tướng. Sau này ban quản lý cấp cao hơn đã duyệt kế hoạch đời thủ đô. Một người bạn đã đăng bản báo cáo của tôi trong tờ Tạp chí Kiến trúc Quốc gia. Tôi bị buộc tội chống lại kế hoạch đã được phê duyệt và phải đối mặt với một hội đồng kỷ luật đặc biệt. Tôi chỉ ra rằng mình đã viết bản báo cáo này trước khi kế hoạch được duyệt chính thức và do vậy đã thoát thân mà không hề hấn gì. Như các bạn biết đấy, thủ đô đã không bao giờ bị di đià vẫn còn ở phía trong Sông Hồng. 
 
bachkhoatrithuc.vn

  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 

Nội dung các bình luận
 

  Các Tin khác
  + Ống khói Cát Linh (09/09/2018)
  + Nhà cổ hơn 100 tuổi ở phố Lãn Ông (29/03/2018)
  + Những vòm cầu hàng trăm năm tuổi (09/03/2018)
  + Ứng xử với di sản đô thị: Đề xuất cải tạo các vòm cầu bên dưới đường dẫn lên cầu Long Biên – Hà Nội (09/03/2018)
  + Dự án bảo tồn, cải tạo, phát triển Cầu Long Biên và khu vực xung quanh trung tâm thủ đô Hà Nội (09/03/2018)
  + Vẻ đẹp cầu Long Biên qua 100 năm tuổi (09/03/2018)
  + Nhà vườn-Biệt thự số 115 Hàng Bạc (cổng sau số 6 Đinh Liệt) (09/03/2018)
  + Căn nhà số 90 phố Hàng Đào (09/03/2018)
  + Biệt thự gần 100 tuổi của đại gia nức tiếng phố cổ một thời (09/03/2018)
  + Nhà phố Pháp trong khu phố cổ Hà Nội 2 (26/02/2018)
 
 
Trang chủ Nội quy Liên hệ Lên đầu trang  
Xa lộ thông tin    Cuộc sống    Thăng Long-Hà Nội    Phố Hà Nội    Nét văn hóa    Những giá trị bảo tồn    Cải tạo, tu bổ, bảo tồn    Quy hoạch - Đô thị    Địa ốc-phong thủy    Diễn đàn    Người đẹp    Thời trang    Du lịch    Thể thao-Sức khỏe    Ẩm thực    thư giãn    Mỹ thuật    Âm nhạc    Trang ảnh xưa    Góc chụp ảnh   

vietarch-kiến trúc sáng tạo